- New Vietnamese Bible 2014
Ê-xơ-ra
Ê-XƠ-RA
Ê-xơ-ra
Êx
Ê-XƠ-RA
Giới Thiệu
Sách Ê-xơ-ra tiếp nối sách Sử Ký mô tả cuộc hồi hương từ Ba-by-lôn về Giê-ru-sa-lem của một nhóm người Giu-đa để xây dựng lại đời sống và thờ phượng Đức Chúa Trời. Cuộc hồi hương được trình bày theo thứ tự như sau:
1. Nhóm người Giu-đa đầu tiên trở về Giê-ru-sa-lem do sắc lệnh của Si-ru, vua Ba-tư.
2. Đền thờ được xây cất lại và cung hiến. Việc thờ phượng Đức Chúa Trời được tái lập tại Giê-ru-sa-lem.
3. Sau đó, một nhóm người Giu-đa khác trở về Giê-ru-sa-lem dưới sự lãnh đạo của Ê-xơ-ra, một giáo sư thông thạo Kinh Luật của Đức Chúa Trời. Ê-xơ-ra giúp dân chúng tái tổ chức đời sống tôn giáo và xã hội để gìn giữ những truyền thống tâm linh của Y-sơ-ra-ên.
Bố Cục
1. Cuộc hồi hương đầu tiên 1:1–2:70
2. Đền thờ được xây dựng trở lại và cung hiến 3:1–6:22
3. Ê-xơ-ra và nhóm người khác trở về 7:1–10:40
Chỉ Dụ Của Vua Si-ru
Năm thứ nhất đời Si-ru vua Ba-tư, để ứng nghiệm lời CHÚA phán qua Giê-rê-mi, 1:1 Nt: qua miệng Giê-rê-mi CHÚA cảm động lòng Si-ru vua Ba-tư ra sắc chỉ rao truyền khắp đế quốc như sau:
“Si-ru vua Ba-tư tuyên cáo: CHÚA, Đức Chúa Trời trên trời cao, đã ban cho ta tất cả các vương quốc trên đất này. Nay Ngài truyền ta xây đền thờ cho Ngài tại Giê-ru-sa-lem, trong xứ Giu-đa. Giữa vòng các ngươi, bất cứ người nào thuộc về toàn thể dân sự Ngài, cầu xin Đức Chúa Trời người ấy ở cùng người, đều được phép trở về1:3 Nt: đi lên Giê-ru-sa-lem trong xứ Giu-đa, xây lại đền thờ CHÚA, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đức Chúa Trời ngự tại Giê-ru-sa-lem. Dân bản xứ1:4 Nt: không có hai chữ “bản xứ” nơi tất cả những người Giu-đa1:4 Thêm “Giu-đa” vào cho rõ nghĩa còn sống sót cư trú, bất cứ nơi nào, phải tiếp tế bạc, vàng, của cải, và gia súc cho họ,1:4 Ctd: Và tất cả những người ở lại, bất cứ nơi nào họ cư trú, phải tiếp tế bạc, vàng, của cải và gia súc cho người đi, cùng với… cùng với những tế lễ tự nguyện dâng hiến cho đền thờ Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem.”
Sự Đáp Ứng Của Dân Giu-đa Bị Lưu Đày
Bây giờ, các trưởng tộc của Giu-đa và Bên-gia-min, các thầy tế lễ và người Lê-vi, hết thảy những người nào được Đức Chúa Trời cảm động, đều chuẩn bị đi về Giê-ru-sa-lem xây đền thờ CHÚA. Tất cả những người lân cận đều tiếp trợ cho họ về mọi mặt, nào bạc, vàng, của cải, gia súc, và vô số những báu vật, chưa kể tất cả những lễ vật tự nguyện hiến dâng. Vua Si-ru cũng trả lại những dụng cụ trong đền thờ CHÚA mà vua Nê-bu-cát-nết-sa đã đem ra khỏi Giê-ru-sa-lem về đặt trong miếu thần của vua. Si-ru vua Ba-tư truyền cho Mít-rê-đát, quan trông coi ngân khố, đem các dụng cụ ấy ra kiểm kê và trao lại cho Sết-ba-xa, lãnh tụ Giu-đa.
Đây là bảng kiểm kê các dụng cụ ấy:
đĩa1:9 Không rõ nghĩa, ctd: là “Chậu.” vàng:30
đĩa bạc:1,000
đĩa bạc pha,1:9 Không rõ nghĩa29
chén vàng:30
chén bạc loại hạng nhì,1:10 Không rõ nghĩa410
dụng cụ khác:1,000
Tổng cộng số dụng cụ vàng và bạc là 5,400 món. Sết-ba-xa mang theo tất cả những dụng cụ ấy khi cùng đoàn người lưu đày từ Ba-by-lôn trở về Giê-ru-sa-lem.
Danh Sách Người Hồi Hương
Đây là những người trong tỉnh Giu-đa đã trở về từ giữa vòng những người phu tù bị lưu đày mà Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã đày qua Ba-by-lôn. Họ trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, ai nấy về thành mình. Họ trở về cùng với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, Sê-ra-gia, Rê-ê-la-gia, Mạc-đô-chê, Binh-san, Biệt-vai, Rê-hum, và Ba-a-na.
Đây là số những người nam trong Y-sơ-ra-ên.
Con cháu Pha-rốt:2,172
con cháu Sê-pha-tia:372
con cháu A-ra:775
con cháu Pha-hát Mô-áp, nghĩa là con cháu của Giê-sua và Giô-áp:2,812
con cháu Ê-lam:1,254
con cháu Xát-tu:945
con cháu Xác-cai:760
con cháu Ba-ni:642
con cháu Bê-bai:623
con cháu A-gát:1,222
con cháu A-đô-ni-cam:666
con cháu Biết-vai:2,056
con cháu A-đin:454
con cháu A-te, nghĩa là con cháu Ê-xê-chia:98
con cháu Bết-sai:323
con cháu Giô-ra:112
con cháu Ha-sum:223
con cháu Ghi-ba:95
người Bết-lê-hem:123
người Nê-tô-pha:56
người A-na-tốt:128
người Ách-ma-vết:42
người Ki-ri-át Giê-a-rim, Kê-phi-ra, và Bê-ê-rốt:743
người Ra-ma và Ghê-ba:621
người Mích-ma:122
người Bê-tên và A-hi:223
người Nê-bô:52
người Mác-bích:156
con cháu Ê-lam khác:1,254
con cháu Ha-rim:320
người Lô-đơ, Ha-đi và Ô-nô:725
người Giê-ri-cô:345
người Sê-na:3,630
Thầy tế lễ
con cháu Giê-đa-gia, thuộc gia tộc Giê-sua:973
con cháu Y-mê:1,052
con cháu Phát-hua:1,247
con cháu Ha-rim:1,017
Người Lê-vi:
con cháu Giê-sua và Cát-mi-ên,
nghĩa là con cháu Hô-đa-via:74
Ca nhạc sĩ:2:41 MT bao gồm cả hai công tác soạn và ca nhạc thánh
con cháu A-sáp:128
Người gác cổng:
con cháu
Sa-lum, A-te, Tanh-môn,
A-cúp, Ha-ti-ta, Sô-bai:139
Người phục dịch đền thờ:
con cháu
Xi-ha, Ha-su-pha, Ta-ba-ốt,
Kê-rốt, Sia-ha, Pha-đôn,
Lê-ba-na, Ha-ga-ba, A-cúp,
Ha-gáp, Sâm-lai, Ha-nan,
Ghi-đên, Ga-ha-rơ, Rê-a-gia,
Rê-xin, Nê-cô-đa, Ga-xam,
U-xa, Pha-sê-a, Bê-sai,
A-sê-na, Mê-u-nim, Nê-phu-sim,
Bác-búc, Ha-khu-pha, Hát-hưa,
Bá-lút, Mê-hi-đa, Hát-sa,
Bát-cốt, Si-sê-ra, Tha-mác,
Nê-xia, Ha-ti-pha.
Con cháu những người nô lệ từ đời Sa-lô-môn:2:55 Có thể đây là những tù binh chiến tranh từ các nước láng giềng bị vua Sa-lô-môn bắt làm xâu
Con cháu
Sô-tai, Hạt-sô-phê-rết, Phê-ru-đa,
Gia-a-la, Đạt-côn, Ghi-đên,
Sê-pha-tia, Hát-tinh,
Bô-kê-rết Ha-xê-ba-im, A-mi.
Tổng cộng những người phục dịch đền thờ và con cháu những người nô lệ từ đời Sa-lô-môn:392
Những người sau đây trở về từ Tên Mê-la, Tên Hát-sa, Kê-rúp, A-đan, và Y-mê, nhưng họ không thể chứng minh qua gia tộc hoặc dòng dõi rằng họ thuộc về dân sự Y-sơ-ra-ên;
con cháu Đê-la-gia, Tô-bi-gia, Nê-cô-đa:652
Về phía những thầy tế lễ:
Con cháu
Hô-bai-gia, Ha-cốt, Bát-xi-lai (ông này cưới một trong những cô con gái của Bát-xi-lai, người Ga-la-át, nên người ta gọi ông theo tên cha vợ).
Những người này tìm tên họ trong danh sách những người đăng ký theo gia phả, nhưng không tìm được, nên bị kể là ô uế và truất khỏi chức tế lễ. Quan tổng đốc cấm họ dùng thức ăn chí thánh cho đến khi nào có thầy tế lễ dùng U-rim và Thu-mim cầu hỏi Đức Chúa Trời.2:63 Nt: thầy tế lễ đeo U-rim và Thu-mim
Toàn thể hội chúng tổng cộng là 42,360 người. Ngoài ra, có 7,337 nam nữ gia nhân và 200 nam nữ ca sĩ,2:65 Đây là những người ca hát giúp vui cho dân sự. Không có người nữ trong ca đoàn hát nhạc thánh tôn vinh Chúa trong đền thờ 736 con ngựa, 245 con la, 435 con lạc đà, và 6,720 con lừa.
Khi về đến đền thờ CHÚA tại Giê-ru-sa-lem, một số các trưởng tộc tự nguyện dâng hiến tài vật vào đền Đức Chúa Trời để dựng lại đền thờ trên nền cũ. Tùy theo khả năng, họ dâng vào quỹ xây cất sáu mươi mốt ngàn đa-riếc2:69 Khoảng 500kg. Đơn vị tiền bằng vàng dưới thời đế quốc Ba-tư, nặng 8.42g vàng, năm ngàn mi-na2:69 Khoảng 3 tấn. Một mi-na tương đương với 571.20g bạc, và 100 bộ lễ phục cho các thầy tế lễ.
Các thầy tế lễ, người Lê-vi, và một số thường dân định cư tại Giê-ru-sa-lem,2:70 LXX: Tại Giê-ru-sa-lem và vùng phụ cận còn những ca nhạc sĩ, những người gác cổng, và những người phục dịch đền thờ định cư trong thành mình. Vậy toàn thể dân Y-sơ-ra-ên định cư trong thành mình.
Lập Lại Sự Thờ Phượng
Đến tháng bảy, sau khi dân Y-sơ-ra-ên đã định cư trong thành mình, toàn3:1 Nt, MT: không có “toàn thể” dân họp lại như một người tại Giê-ru-sa-lem. Bấy giờ, Giê-sua, con trai Giô-xa-đác, cùng với các thầy tế lễ khác, và Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-anh-thi-ên, cùng anh em ông, khởi sự xây cất bàn thờ cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên để dâng tế lễ thiêu trên ấy, theo như đã chép trong Kinh Luật Môi-se, người của Đức Chúa Trời. Họ dựng bàn thờ trên vị trí cũ, vì họ sợ dân trong vùng, và họ dâng tế lễ thiêu cho CHÚA trên bàn thờ ấy, dâng tế lễ thiêu buổi sáng và buổi chiều. Họ cử hành lễ lều tạm, y như đã chép, và mỗi ngày, dâng tế lễ thiêu theo số quy định cho ngày ấy; kế đến, họ dâng tế lễ thiêu thường lệ, tế lễ thiêu ngày trăng non, tế lễ thiêu trong tất cả những dịp lễ thánh của CHÚA, và tế lễ thiêu của mỗi người tự nguyện dâng hiến cho CHÚA. Họ khởi sự dâng tế lễ thiêu cho CHÚA từ ngày mồng một tháng bảy, mặc dù lúc ấy nền đền thờ CHÚA chưa đặt.
Lễ Cung Hiến Nhân Dịp Đặt Nền Đền Thờ
Vậy họ trao bạc cho thợ đẽo đá và thợ thủ công, và cung cấp thức ăn, thức uống và dầu cho dân Si-đôn và dân Ty-rơ để chở gỗ bách hương từ Li-ban về cảng Gióp-bê bằng đường biển, theo chiếu chỉ Si-ru vua Ba-tư cấp cho họ.
Năm thứ hai sau khi họ về đến đền thờ Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem, vào tháng hai, Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-anh-thi-ên, và Giê-sua, con trai Giô-xa-đác, cùng với hết thảy anh em còn lại, những thầy tế lễ, người Lê-vi, và tất cả những phu tù trở về Giê-ru-sa-lem khởi sự xây cất.3:8 Thêm vào cho rõ nghĩa Họ lập người Lê-vi từ hai mươi tuổi trở lên giám sát công việc xây cất đền thờ CHÚA. Giê-sua, các con trai và anh em ông, với Cát-mi-ên, Bin-nui, con trai Hê-na-đát, cùng con cháu và anh em họ, người Lê-vi, họp lại như một người giám sát những người làm công tác xây cất đền thờ Đức Chúa Trời.
Khi thợ xây cất đặt nền đền thờ CHÚA, những thầy tế lễ mặc lễ phục đứng thổi kèn, và những người Lê-vi, con cháu A-sáp, đánh chập chỏa, tôn vinh CHÚA, theo nghi thức Đa-vít vua Y-sơ-ra-ên quy định. Họ hát đối đáp, tôn vinh và cảm tạ CHÚA:
“Thật Chúa thiện mỹ,
Tình yêu Ngài đối với Y-sơ-ra-ên bền vững muôn đời.”
Rồi toàn dân reo lớn tiếng tôn vinh CHÚA vì đã đặt xong nền cho đền thờ CHÚA.
Nhưng có nhiều thầy tế lễ, người Lê-vi, và trưởng tộc, những bậc lão thành đã từng thấy đền thờ trước kia trên nền cũ, đó chính thật là đền thờ theo mắt họ thì khóc lớn tiếng, trong khi nhiều người khác reo lớn tiếng vui mừng, cho nên người ta không thể phân biệt tiếng reo vui với tiếng khóc, vì dân sự kêu lớn tiếng, từ xa vẫn nghe được.
Sự Chống Đối Dưới Triều Vua Si-ru
Khi kẻ thù của Giu-đa và Bên-gia-min nghe tin những người lưu đày trở về đang xây cất đền thờ CHÚA, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, họ đến thưa với Xô-rô-ba-bên và các trưởng tộc: “Xin cho chúng tôi xây cất chung với các ông, vì chúng tôi cũng tìm cầu Đức Chúa Trời các ông y như các ông, và chúng tôi vẫn dâng lễ vật cho Ngài từ ngày Ê-sa-ha-đôn vua A-si-ri đem chúng tôi đến đây.” Nhưng Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, và các trưởng tộc khác của Y-sơ-ra-ên đáp lời chúng: “Các ông không được dự phần với chúng tôi trong việc xây cất đền thờ Đức Chúa Trời chúng tôi, chỉ riêng chúng tôi có trách nhiệm xây cất đền thờ CHÚA, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, theo như Si-ru vua Ba-tư ra lệnh cho chúng tôi.”
Vậy, dân trong vùng làm cho dân Giu-đa ngã lòng,4:4 Dịch từng chữ: làm cho đôi tay rủ xuống/yếu đi nhát sợ không dám xây cất nữa; họ mua chuộc chính quyền4:5 Nt: các vị cố vấn chống đối và phá hoại dự án xây cất của dân Giu-đa suốt thời gian còn lại dưới triều Si-ru vua Ba-tư cho đến thời Đa-ri-út làm vua Ba-tư.
Sự Chống Đối Dưới Triều Vua A-suê-ru Và Át-ta-xét-xe
Đến đời vua A-suê-ru, khi vua khởi sự trị vì, họ viết một bản cáo trạng tố dân cư Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
Dưới đời Át-ta-xét-xe, Bích-lam, Mít-rê-đát, Ta-bê-ên, và các cộng sự viên khác của ông4:7 Ctd: Ta-bê-ên và đồng nghiệp của ông hiệp với Mít-rê-đát viết sớ… viết sớ tâu lên Át-ta-xét-xe, vua Ba-tư. Sớ viết bằng tiếng A-ram, và dịch ra cho vua.
Sau đây,4:8 Đệm từ đại biểu triều đình Rê-hum và thư ký Sim-sai viết sớ chống đối Giê-ru-sa-lem tâu lên vua Át-ta-xét-xe, như sau: đại biểu triều đình Rê-hum, bí thư Sim-sai, và các cộng sự viên khác, các vị thẩm phán và cộng sự giữa vòng4:9 Thêm vào cho rõ nghĩa người Tạt-bên, người Ba-tư, người Ê-rết, người Ba-by-lôn, người Su-sa, tức là người Ê-lam, và những sắc dân khác mà vua Ô-náp-ba4:10 Tức là vua A-sua-ba-ni-banh vĩ đại và cao trọng đưa đến lập nghiệp tại thành Sa-ma-ri và các nơi khác trong tỉnh phía tây sông.4:10 Sông Ơ-phơ-rát. Nt: Bên kia sông
Đây là bản sao tờ sớ họ trình lên vua:
“Tôi tớ vua, trong tỉnh phía tây sông, kính tâu vua Át-ta-xét-xe.
Giờ đây, chúng tôi xin tâu bệ hạ rõ những người Giu-đa từ nơi bệ hạ đi lên về hướng chúng tôi đã đến thành Giê-ru-sa-lem. Chúng đang xây lại thành phản loạn và độc ác này, và sắp sửa hoàn tất vách thành, còn nền móng đã xây xong.
Do đó, chúng tôi xin tâu bệ hạ rõ, nếu thành này xây xong, và vách thành hoàn tất, chúng sẽ không nạp cống, đóng thuế quan, thuế đất4:13 Có thể là cống phẩm nhưng chưa rõ nghĩa là loại thuế gì cho bệ hạ nữa, và hậu quả là thiệt hại cho ngân khố triều đình.4:13 Nt: và hậu quả là cuối cùng vua tôi sẽ chịu thiệt thòi Vì chúng tôi hưởng lộc4:14 Nt: ăn muối triều đình, chúng tôi không thể bàng quan chứng kiến cảnh bệ hạ bị xúc phạm4:14 Nt: chứng kiến sự trần truồng của bệ hạ thật không thích hợp cho chúng tôi như thế, nên chúng tôi dâng sớ tâu bệ hạ rõ, xin bệ hạ cho truy cứu sách sử đời các vua cha. Trong sách sử, bệ hạ sẽ khám phá được và xác minh rằng thành này là một thành hay phản nghịch, chuyên gây thiệt hại cho các vua và các tỉnh. Dân thành đã từng dấy loạn từ xưa. Vì cớ đó mà thành này bị phá đổ hoang tàn. Chúng tôi xin tâu bệ hạ rõ, nếu thành này xây xong, và vách thành hoàn tất, bấy giờ bệ hạ sẽ không còn phần đất nào bên phía tây sông nữa.”
Vua giáng chiếu phúc đáp:
“Gởi đại biểu triều đình Rê-hum, thư ký Sim-sai và các cộng sự viên khác đang sống tại Sa-ma-ri và các nơi khác trong tỉnh phía tây sông.
Chúc các khanh bình an.
Tờ sớ các khanh dâng lên đã đọc ra đúng nguyên văn4:18 MT: rõ ràng, tỏ tường trước mặt ta. Ta đã ra lệnh truy cứu và khám phá được rằng thành này từ xưa đã từng nổi dậy chống nghịch các vua. Phản nghịch và dấy loạn thường xuyên xảy ra trong thành. Có những vua hùng mạnh cai trị Giê-ru-sa-lem và khắp cả vùng phía tây sông, và người ta đã từng nạp cống và đóng thuế quan, thuế đất cho các vua ấy. Vì thế các khanh hãy ra lệnh cho các người đó ngưng việc xây cất thành này cho đến khi ta ban lệnh mới. Các khanh hãy thận trọng, đừng chểnh mảng trong công tác này, kẻo việc này gây thiệt hại cho triều đình.”
Rê-hum, bí thư Sim-sai, và những cộng sự viên vừa nghe đọc xong bản sao tờ chiếu của vua Át-ta-xét-xe, liền hối hả đến Giê-ru-sa-lem, dùng cường quyền cưỡng bức người Do Thái đình chỉ việc xây cất.
Thế là công tác xây cất đền thờ Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem đình lại, và đình trệ luôn cho đến năm thứ hai đời Đa-ri-út vua Ba-tư.
Tiếp Tục Xây Đền Thờ
Bấy giờ, tiên tri Ha-gai và tiên tri Xa-cha-ri, con trai Y-đô, rao truyền lời Chúa5:1 Ctd: nói tiên tri cho người Do Thái ở Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, trong danh Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng cầm quyền trên họ.5:1 Ctd: các tiên tri… được Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên cảm động, rao truyền lời Chúa cho người Do Thái… Ngay sau đó, Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-anh-thi-ên, và Giê-sua, con trai Giô-xa-đác, khởi sự xây lại đền thờ Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. Các tiên tri của Đức Chúa Trời ở cùng họ và ủng hộ họ.
Thống Đốc Tạc-tê-nai Tâu Sớ Lên Vua Đa-ri-út
Lúc ấy, Tạc-tê-nai, thống đốc tỉnh phía tây sông, và Sê-ta-bô-xê-nai, cùng các cộng sự viên đến tra vấn họ như sau: “Ai cho phép các ông xây đền này và hoàn tất công việc lắp ráp vật liệu này?”5:3 MT: vật liệu ấy thường là gỗ Chúng5:4 LXX và Syr chép ngôi thứ ba, số nhiều cũng hỏi thêm: “Những người xây cất đền này tên gì?” Nhưng Đức Chúa Trời che chở5:5 Nt: nhưng mắt Đức Chúa Trời đoái xem các trưởng lão dân Giu-đa, nên chúng buộc họ đình việc trong khi chúng báo cáo lên vua Đa-ri-út và sau đó, nhận chiếu vua gửi xuống về vấn đề này.
Đây là bản sao tờ sớ mà Tạc-tê-nai, thống đốc tỉnh phía tây sông, và Sê-ta-bô-xê-nai, cùng các cộng sự viên, các thanh tra trong tỉnh phía tây sông, tâu lên vua Đa-ri-út. Họ tâu lên vua bản báo cáo, trong đó có viết như sau: “Tâu vua Đa-ri-út, kính chúc vạn sự bình an! Chúng tôi xin tâu bệ hạ rõ, chúng tôi có đến tỉnh Giu-đa, đến đền thờ của Đức Chúa Trời vĩ đại. Chúng tôi thấy các trưởng lão dân Do Thái5:8 Thêm vào cho thích hợp với văn mạch đang xây lại đền bằng đá đẽo và lắp gỗ vào tường. Công tác thi hành cách nghiêm túc và đang xúc tiến tốt đẹp.5:8 Nt: trong tay họ Kế đến, chúng tôi tra hỏi các trưởng lão này, chúng tôi hỏi họ như sau: ‘Ai cho phép các ông xây đền này, và hoàn tất công việc lắp ráp vật liệu này?’ Chúng tôi cũng hỏi tên họ nhằm mục đích trình lên bệ hạ rõ tên những người lãnh đạo họ.
Và đây là lời họ đáp lại chúng tôi: ‘Chúng tôi là tôi tớ của Đức Chúa Trời, Chủ Tể trời và đất. Chúng tôi đang xây lại đền thờ đã được xây cất cách đây nhiều năm lắm rồi. Một vị vua vĩ đại của Y-sơ-ra-ên đã xây và hoàn tất đền thờ. Các vị tổ tiên chúng tôi chọc giận Đức Chúa Trời trên trời, nên Ngài giao họ vào tay Nê-bu-cát-nết-sa, người Canh-đê, vua Ba-by-lôn. Vua phá hủy đền thờ này và đày dân sự qua Ba-by-lôn.
Tuy nhiên, vào năm thứ nhất đời Si-ru, vua Ba-by-lôn, vua Si-ru ban chiếu chỉ xây lại đền thờ này của Đức Chúa Trời. Ngoài ra, vua Si-ru cũng đem ra khỏi miếu ở Ba-by-lôn những dụng cụ bằng vàng và bạc trong đền thờ Đức Chúa Trời, mà Nê-bu-cát-nết-sa đã đem ra khỏi đền thờ tại Giê-ru-sa-lem và đem về miếu ở Ba-by-lôn. Vua Si-ru giao trả những dụng cụ ấy cho một người tên Sết-ba-xa mà vua lập lên làm tổng trấn.’ Vua truyền bảo ông: ‘Hãy đem các dụng cụ này về đặt trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, và xây lại đền thờ Đức Chúa Trời tại vị trí cũ.’ Chính ông Sết-ba-xa ấy đến đặt nền đền thờ Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. Từ đấy đến nay, đền thờ vẫn được xây cất, nhưng chưa hoàn tất. Vậy bây giờ, nếu bệ hạ đẹp lòng, kính xin bệ hạ cho truy cứu trong văn khố5:17 Nt: ngân khố tại triều đình, tại đây, ở Ba-by-lôn, xem vua Si-ru có ban chiếu chỉ xây cất đền thờ này của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem không. Kính xin bệ hạ cho chúng tôi biết tôn ý trong vấn đề này.”
Tìm Lại Được Chỉ Dụ Của Vua Si-ru
Bấy giờ, vua Đa-ri-út ra lệnh truy cứu trong văn khố, nơi lưu trữ các văn kiện quý,6:1 Nt: của quý/báu vật tại Ba-by-lôn. Nhưng chính tại trong thành lũy Éc-ba-tan, thuộc tỉnh Mê-đi, người ta mới tìm thấy một cuốn da,6:2 Lúc ấy, văn kiện bằng tiếng A-ram viết trên cuốn da trong đó có ghi chép như sau: “Điều cần nhớ. Năm thứ nhất đời vua Si-ru, vua Si-ru ban sắc lệnh về đền Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. Phải xây lại đền ngay tại6:3 Ctd: đền là nơi… nơi người ta thường dâng lễ vật, và phải đắp cho vững chắc nền cũ của đền. Chiều cao đền là sáu mươi am-ma,6:3 Khoảng 27m. Một am-ma tương đương với 46cm chiều rộng sáu mươi am-ma, với ba dãy đá đẽo và một dãy xà gỗ. Phí tổn do ngân khố triều đình đài thọ. Ngoài ra, phải trả lại các dụng cụ bằng vàng và bạc trong đền thờ Đức Chúa Trời mà Nê-bu-cát-nết-sa đã đem ra khỏi đền tại Giê-ru-sa-lem và mang về Ba-by-lôn. Phải đem các dụng cụ ấy về đền tại Giê-ru-sa-lem, đặt mỗi dụng cụ vào chỗ riêng của nó trong đền Đức Chúa Trời.”
Vua Đa-ri-út Ra Chỉ Thị Cho Tạc-tê-nai Về Việc Xây Đền Thờ
“Vậy, bây giờ, Tạc-tê-nai, thống đốc tỉnh phía tây sông, Sê-ta-bô-xê-nai, và các thanh tra cộng sự viên của các người trong tỉnh phía tây sông, hãy tránh xa nơi đó. Hãy để yên công tác xây cất đền này của Đức Chúa Trời. Hãy để tổng trấn dân Do Thái và các trưởng lão dân Do Thái xây lại đền của Đức Chúa Trời tại vị trí cũ.
Ta cũng ban hành sắc lệnh về điều các ngươi cần phải làm cho các trưởng lão của dân Do Thái đối với công tác xây cất đền của Đức Chúa Trời: Phải dùng số thu nhập của triều đình từ các phần công thuế trong tỉnh phía tây sông mà trả đầy đủ mọi chi phí cho các người này, để công việc khỏi bị đình trệ.6:8 MT: nói về công việc xây cất chứ không phải việc trả tiền Bất cứ điều chi họ cần, như là bò tơ đực, cừu đực, hoặc cừu con, dê dâng tế lễ thiêu cho Đức Chúa Trời trên trời, hoặc lúa mì, muối, rượu, và dầu, thể theo lời yêu cầu của các thầy tế lễ tại Giê-ru-sa-lem, các ngươi phải cung cấp cho họ hằng ngày, không thiếu chi hết, để họ dâng lễ vật vừa ý Đức Chúa Trời trên trời, và cầu nguyện cho vua và các hoàng tử được sống lâu.6:10 Nt: cầu nguyện cho sự sống của vua và…
Ta cũng ban lệnh, nếu ai vi phạm6:11 Ctd: thay đổi chiếu chỉ này, phải rút một cây đòn tay từ nhà hắn ra, đâm thẳng đứng vào người hắn, và nhà hắn sẽ bị tịch thu vì cớ tội ấy.6:11 MT: không rõ nghĩa Cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng khiến danh Ngài ngự tại đây, lật đổ vua nào hoặc dân tộc nào liều lĩnh6:12 Nt: giơ tay lên vi phạm sắc lệnh hoặc6:12 Ctd: bằng cách phá hủy đền thờ này của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. Ta, Đa-ri-út, ban hành sắc lệnh này. Mỗi người phải chấp hành triệt để.”
Lễ Cung Hiến Đền Thờ
Tạc-tê-nai, thống đốc tỉnh phía tây sông, Sê-ta-bô-xê-nai, và các cộng sự viên triệt để thi hành sắc lệnh vua Đa-ri-út ban xuống. Vậy các trưởng lão dân Do Thái tiếp tục xây cất. Công việc tiến triển tốt đẹp nhờ sự rao truyền lời Chúa của tiên tri Ha-gai và tiên tri Xa-cha-ri, con trai Y-đô. Họ hoàn tất công việc xây cất theo mệnh lệnh Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, và theo chiếu chỉ của Si-ru, Đa-ri-út, và Át-ta-xét-xe, vua Ba-tư. Đền thờ cất xong vào ngày 236:15 Tháng A-đa là tháng thứ 12 theo lịch Ba-by-lôn, khoảng 15 tháng 2 đến 15 tháng 3 tây lịch tháng A-đa, trong năm thứ sáu đời vua Đa-ri-út.
Dân Y-sơ-ra-ên, các thầy tế lễ, những người Lê-vi, và hết thảy những người lưu đày khác hồi hương vui mừng tổ chức lễ khánh thành đền thờ Đức Chúa Trời. Trong dịp lễ khánh thành đền thờ của Đức Chúa Trời, họ dâng 100 bò đực, 200 cừu đực, 400 cừu con, và, tùy theo số các bộ tộc Y-sơ-ra-ên, mười hai dê đực làm tế lễ chuộc tội cho toàn dân Y-sơ-ra-ên. Họ lập các thầy tế lễ theo từng ban, và những người Lê-vi theo từng ngành để phục vụ đền thờ6:18 MT: để phục vụ Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem, y như có chép trong Kinh Luật Môi-se.
Lễ Vượt Qua Trọng Thể
Ngày 14 tháng giêng, những người lưu đày hồi hương giữ lễ Vượt Qua, vì các thầy tế lễ đã dọn mình thánh sạch, và toàn thể những người Lê-vi cũng đồng lòng dọn mình thánh sạch. Họ giết cừu con lễ Vượt Qua cho tất cả những người lưu đày hồi hương, cho anh em họ là thầy tế lễ, và cho chính họ. Những người ăn lễ Vượt Qua là dân Y-sơ-ra-ên lưu đày hồi hương cùng với hết thảy những người nào đã biệt mình riêng ra khỏi sự ô uế của dân địa phương để tìm cầu CHÚA, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Họ cũng vui mừng giữ lễ bánh không men trong bảy ngày, vì Đức Chúa Trời ban niềm vui cho họ, Ngài đổi lòng vua A-si-ri đối với họ, khiến vua giúp đỡ họ trong công tác xây cất đền thờ CHÚA, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
Sứ Mệnh Của Ê-xơ-ra
Sau các việc ấy, nhằm đời Át-ta-xét-xe, vua Ba-tư, có Ê-xơ-ra, là con trai Sê-ra-gia, Sê-ra-gia con trai A-xa-ria, A-xa-ria con trai Hinh-kia, Hinh-kia con trai Sa-lum, Sa-lum con trai Xa-đốc, Xa-đốc con trai A-hi-túp, A-hi-túp con trai A-ma-ria, A-ma-ria con trai A-xa-ria, A-xa-ria con trai Mê-ra-giốt, Mê-ra-giốt con trai Xê-ra-hi-gia, Xê-ra-hi-gia con trai U-xi, U-xi con trai Bu-ki, Bu-ki con trai A-bi-sua, A-bi-sua con trai Phi-nê-a, Phi-nê-a con trai Ê-lê-a-sa, Ê-lê-a-sa con trai A-rôn, thầy tế lễ đầu tiên.7:5 Ctd: thầy tế lễ chính Chính Ê-xơ-ra này trở về7:6 Nt: đi lên từ Ba-by-lôn. Ông là một học giả, thông thạo Kinh Luật Môi-se do CHÚA, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên ban truyền. Nhờ CHÚA, là Đức Chúa Trời của ông, phù hộ,7:6 Nt: Tùy theo bàn tay Đức Chúa Trời… ở cùng ông… nên vua ban cho ông mọi điều ông thỉnh cầu.
Một số thường dân Y-sơ-ra-ên, một số thầy tế lễ, người Lê-vi, ca nhạc sĩ, người gác cổng, và người phục dịch đền thờ cùng trở lên Giê-ru-sa-lem trong năm thứ bảy đời vua Át-ta-xét-xe. Ê-xơ-ra7:8 Nt: ông về đến Giê-ru-sa-lem vào tháng năm, trong năm thứ bảy triều vua, vì ông đã ấn định chuyến đi khởi hành từ Ba-by-lôn vào ngày mồng một tháng giêng, và ông về đến Giê-ru-sa-lem vào ngày mồng một tháng năm, nhờ Đức Chúa Trời nhân từ của ông phù hộ. Thật vậy, Ê-xơ-ra chuyên tâm nghiên cứu và thực hành luật pháp CHÚA, cũng như dạy dỗ đạo luật và quy chế Ngài cho dân Y-sơ-ra-ên.
Chỉ Dụ Của Vua Át-ta-xét-xe
Đây là bản sao chiếu chỉ vua Át-ta-xét-xe ban cho Ê-xơ-ra, thầy tế lễ và học giả thông thạo những vấn đề liên quan đến điều răn và đạo luật CHÚA truyền cho Y-sơ-ra-ên.
Át-ta-xét-xe, vua các vua, gởi cho Ê-xơ-ra, thầy tế lễ và học giả thông thạo luật pháp của Đức Chúa Trời trên trời, Chúa bình an.7:12 MT: không rõ nghĩa
Và giờ đây, ta ban hành sắc lệnh, bất kỳ ai trong vương quốc ta, dù là thường dân Y-sơ-ra-ên, hoặc thầy tế lễ, hoặc người Lê-vi, tình nguyện trở về Giê-ru-sa-lem với người, đều được phép trở về, vì vua và bảy vị quân sư sai người đi điều tra về tình hình Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, dựa theo luật pháp của Đức Chúa Trời mà người thông thạo.7:14 Nt: ở trong tay người Người phải đem theo bạc và vàng mà vua và các quân sư tình nguyện hiến dâng cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng lập nơi ngự Ngài tại Giê-ru-sa-lem, cùng với hết thảy bạc vàng mà người thu thập được trong cả tỉnh Ba-by-lôn, luôn cả lễ vật mà dân sự và thầy tế lễ tình nguyện dâng hiến cho đền thờ Đức Chúa Trời họ tại Giê-ru-sa-lem. Kế đến, ngươi hãy dùng tiền ấy mua đầy đủ bò đực, cừu đực và cừu con, cùng lễ vật bằng ngũ cốc và rượu tương xứng đem dâng trên bàn thờ trong đền thờ Đức Chúa Trời các ngươi tại Giê-ru-sa-lem.
Bạc vàng còn lại, ngươi và anh em ngươi được phép sử dụng theo ý các ngươi cho là tốt nhất, hợp với ý Đức Chúa Trời các ngươi. Về phần các dụng cụ đã giao cho ngươi để dùng vào sự thờ phượng trong đền thờ Đức Chúa Trời ngươi, ngươi hãy hoàn lại đầy đủ trước mặt Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. Còn những gì cần thiết khác cho đền thờ Đức Chúa Trời ngươi, mà ngươi có trách nhiệm cung cấp, ngươi được phép sử dụng ngân khố triều đình để cung cấp.
Ta, vua Át-ta-xét-xe, ra sắc lệnh truyền cho các giám đốc ngân khố tỉnh phía tây sông: Bất kỳ điều gì Ê-xơ-ra, thầy tế lễ và học giả thông thạo luật của Đức Chúa Trời trên trời, cần nơi các ngươi, các ngươi hãy cung cấp đầy đủ, cho đến tối đa 100 ta-lâng7:22 Một ta-lâng tương đương với 34.30kg bạc, 100 cô-rơ7:22 Một cô-rơ tương đương với 181l lúa mì, 100 bát7:22 Môt bát tương đương với 21l rượu, 100 bát dầu, còn muối, không hạn chế.7:22 Nt: không viết/ghi giới hạn
Bất cứ điều gì Đức Chúa Trời trên trời truyền dạy, các ngươi hãy thực hiện chu đáo7:23 Ctd: đầy đủ/sốt sắng/trung tín cho đền của Đức Chúa Trời trên trời, e tai họa7:23 Nt: cơn phẫn nộ giáng xuống vương quốc của vua và các hoàng tử. Ta cũng truyền cho các ngươi biết rõ, các ngươi không được phép buộc bất cứ thầy tế lễ hoặc người Lê-vi, ca nhạc sĩ, người gác cổng, người phục dịch đền thờ, hoặc những người khác phục vụ trong đền thờ này của Đức Chúa Trời, nộp cống hoặc đóng thuế quan, thuế đất gì cả.
Còn ngươi, Ê-xơ-ra, theo sự khôn ngoan Đức Chúa Trời ban cho ngươi, hãy chỉ định thẩm phán, và viên chức7:25 Nt: thẩm phán/quan tòa để xét xử toàn dân trong tỉnh phía tây sông, nghĩa là toàn thể những người nào biết luật lệ của Đức Chúa Trời ngươi, còn những người nào không biết thì các ngươi phải dạy cho họ. Có ai bất tuân luật Đức Chúa Trời và luật vua, phải xử trị nghiêm khắc,7:26 Ctd: lập tức/nhanh chóng bằng án tử hình, nhục hình,7:26 Hình phạt thể xác tịch biên tài sản, hoặc giam cầm.
Ngợi khen CHÚA, Đức Chúa Trời của tổ tiên tôi, Ngài đã đặt vào lòng vua ý muốn sửa sang cho đẹp đền thờ CHÚA tại Giê-ru-sa-lem, và cho tôi được lòng vua,7:28 Nt: mở rộng tình yêu bền vững của Ngài đối với tôi trước mặt vua… các quân sư, và hết thảy các quan chức quyền thế của vua. Về phần tôi, nhờ CHÚA, Đức Chúa Trời tôi, phù hộ, nên tôi thu hết can đảm triệu tập những người lãnh đạo giữa vòng dân Y-sơ-ra-ên để cùng tôi hồi hương.7:28 Nt: để cùng đi lên với tôi
Danh Sách Những Người Hồi Hương Cùng Lúc Với Ê-xơ-ra
Đây là tên và gia phả các trưởng tộc cùng trở về với tôi từ Ba-by-lôn, dưới đời vua Át-ta-xét-xe:
Ghẹt-sôn, thuộc con cháu Phi-nê-a; Đa-ni-ên, thuộc con cháu Y-tha-ma; Hát-túc, con trai Sê-ca-nia, thuộc con cháu Đa-vít;
Xa-cha-ri, thuộc con cháu Pha-rốt; có 150 người nam ghi danh cùng với Xa-cha-ri;
Ê-li-ô-ê-nai, con trai Xê-ra-hi-gia, thuộc con cháu Pha-hát Mô-áp; cùng với Ê-li-ô-ê-nai có 200 người nam;
Sê-ca-nia, con trai Gia-ha-xi-ên, thuộc con cháu Xát-tu;8:5 MT: thiếu tên này, sửa lại theo LXX cùng với Sê-ca-nia có 300 người nam;
Ê-bết, con trai Giô-na-than, thuộc con cháu A-đin; cùng với Ê-bết có 50 người nam;
Giê-sai-gia, con trai A-tha-li, thuộc con cháu Ê-lam; cùng với Giê-sai-gia có 70 người nam;
Xê-ba-đia; con trai Mi-ca-ên, thuộc con cháu Sê-pha-tia; cùng với Xê-ba-đia có 80 người nam;
Ô-ba-đia, con trai Giê-hi-ên, thuộc con cháu Giô-áp, cùng với Ô-ba-đia có 218 người nam;
Sê-lô-mốt, con trai Giô-si-phia, thuộc con cháu Ba-ni; cùng với Sê-lô-mốt có 160 người nam;
Xa-cha-ri, con trai Bê-bai, thuộc con cháu Bê-bai; cùng với Xa-cha-ri có 28 người nam;
Giô-ha-nan, con trai Ha-ca-tan, thuộc con cháu A-gát; cùng với Giô-ha-nan có 110 người nam;
Ê-li-phê-lết, Giê-i-ên, và Sê-ma-gia, những người cuối cùng thuộc con cháu A-đô-ni-cam; cùng với họ có 60 người nam;
U-thai, con trai Xáp-bút, thuộc con cháu Biệt-vai; cùng với U-thai có 70 người nam.
Tuyển Mộ Người Lê-vi
Tôi tập họp họ bên bờ kinh chảy về A-ha-va; chúng tôi cắm trại tại đây trong ba ngày. Khi tôi kiểm điểm nhân số, thấy chỉ có thường dân và thầy tế lễ, còn người Lê-vi, không thấy ai tại đây cả. Vậy tôi cho mời các nhà lãnh đạo Ê-li-ê-se, A-ri-ên, Sê-ma-gia; En-na-than, Gia-ríp, En-na-than, Na-than, Xa-cha-ri, và Mê-su-lam, và các giáo sư Giô-gia-ríp và Ên-na-than. Tôi cử họ đến gặp Y-đô, một nhà lãnh đạo tại nơi gọi là Ca-si-phia, và tôi dạy họ8:17 Nt: tôi đặt lời vào miệng họ để nói với Y-đô truyền cho Y-đô, anh em ông, và những người phục dịch đền thờ gửi đến cho chúng tôi những người phục vụ đền thờ Đức Chúa Trời chúng tôi. Nhờ Đức Chúa Trời nhân từ chúng tôi phù hộ, họ gửi đến chúng tôi một người tài giỏi, thuộc con cháu Mách-li, con Lê-vi, cháu Y-sơ-ra-ên, tên là Sê-rê-bia, cùng với các con trai ông và anh em ông; cả thảy 18 người; họ cũng gửi Ha-sa-bia, và cùng với ông, Giê-sai-gia, thuộc con cháu Mê-ra-ri, với anh em ông và các con trai họ, cả thảy 20 người; còn những người phục dịch đền thờ mà Đa-vít và quần thần lập lên phụ tá người Lê-vi, có 220 người phục dịch đền thờ, cả thảy đều có tên ghi trong danh sách.
Chuẩn Bị Lên Đường
Tại đây, bên kinh A-ha-va, tôi rao truyền kiêng ăn để chúng tôi hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời chúng tôi, và cầu xin Ngài cho chúng tôi, con cái chúng tôi, và mọi tài sản chúng tôi đi đường bình an; thật vậy, tôi xấu hổ không dám xin vua cho quân đội và kỵ binh theo hộ tống để bảo vệ chúng tôi khỏi kẻ thù lúc đi đường, vì chúng tôi có tâu với vua: “Đức Chúa Trời chúng tôi phù hộ mọi người tìm cầu Ngài, nhưng cơn phẫn nộ mãnh liệt của Ngài giáng xuống mọi người từ bỏ Ngài.” Vì thế, chúng tôi kiêng ăn và tìm cầu Đức Chúa Trời chúng tôi về điều ấy, và Ngài đáp lời khẩn xin của chúng tôi.
Kế đó, trong số các thầy tế lễ lãnh đạo, tôi để riêng mười hai người, cùng với Sê-rê-bia và Ha-sa-bia, và mười người trong vòng các anh em họ. Tôi cân và trao cho họ bạc, vàng, các dụng cụ, là lễ vật mà vua, các quân sư, và quần thần vua, và hết thảy dân Y-sơ-ra-ên hiện diện lúc bấy giờ dâng cho đền thờ Đức Chúa Trời chúng tôi. Tôi cân và trao cho họ cất giữ8:26 Nt: trao tận tay họ sáu trăm năm mươi ta-lâng bạc,8:26 Khoảng 22 tấn 100 dụng cụ bạc nặng… một trăm ta-lâng8:26 Khoảng 3.4 tấn vàng, 20 chén vàng trị giá 1,000 đa-riếc, và hai dụng cụ bằng đồng tốt bóng ngời, quý như vàng.
Tôi nói với họ: “Các ông là người biệt riêng ra cho CHÚA, các dụng cụ cũng được biệt riêng ra, còn bạc vàng là lễ vật tự nguyện dâng hiến cho CHÚA, Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta.8:28 MT: tổ phụ các ông Xin các ông cất giữ cẩn thận cho đến khi các ông cân lại các lễ vật này trước mặt các thầy tế lễ lãnh đạo, người Lê-vi, và các trưởng tộc dân Y-sơ-ra-ên tại Giê-ru-sa-lem, trong kho đền thờ CHÚA.” Vậy các thầy tế lễ và người Lê-vi nhận số lượng bạc, vàng và dụng cụ để mang về Giê-ru-sa-lem, về đền thờ Đức Chúa Trời chúng tôi.
Về Đến Giê-ru-sa-lem An Toàn
Ngày 12 tháng giêng, chúng tôi khởi hành từ kinh A-ha-va lên đường về Giê-ru-sa-lem. Đức Chúa Trời chúng tôi phù hộ chúng tôi và giải cứu chúng tôi khỏi tay kẻ thù rình rập dọc đường. Chúng tôi về đến Giê-ru-sa-lem, và nghỉ ngơi8:32 Nghỉ ngơi thay vì “ở/ở lại đây” vì sau ba ngày họ không đi nơi khác Qua ngày thứ tư, chúng tôi cân bạc, vàng, và các dụng cụ trong đền thờ Đức Chúa Trời chúng tôi và giao cho Mê-rê-mốt, con trai thầy tế lễ U-ri-gia, cất giữ. Cũng có mặt Ê-lê-a-sa, con trai Phi-nê-a, và những người Lê-vi, Giô-xa-bát, con trai Giê-sua, và Nô-a-đia, con trai Bin-nui. Chúng tôi đếm và cân từng món cho đến hết,8:34 Nt: theo số và theo sức nặng cho tất cả và ghi chép tổng số trọng lượng ngay lúc ấy.
Những người lưu đày hồi hương dâng tế lễ thiêu cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên gồm có 12 bò đực cho toàn dân Y-sơ-ra-ên, 96 cừu đực, 728:35 MT: 77 cừu con, và 12 dê đực làm lễ vật chuộc tội. Tất cả là tế lễ thiêu dâng lên cho CHÚA. Họ cũng truyền lệnh vua lại cho các viên chức triều đình trong tòa thống đốc và các tổng trấn trong tỉnh phía tây sông; vì thế, những người này hỗ trợ dân chúng và đền thờ Đức Chúa Trời.
Khủng Hoảng Giữa Cộng Đồng: Hôn Nhân Ngoại Tộc
Khi các việc ấy xong rồi, các nhà lãnh đạo đến nói với tôi: “Dân Y-sơ-ra-ên, các thầy tế lễ, và người Lê-vi không có sống tách biệt khỏi dân địa phương, là dân có những tập tục ghê tởm như tập tục của dân Ca-na-an, Hết, Phê-rết, Giê-bút, Am-môn, Mô-áp, Ai-cập, và A-mô. Họ cưới con gái địa phương cho chính mình hoặc con mình làm vợ, cho nên dòng giống thánh pha trộn với dân địa phương. Hơn nữa, những người đầu tiên phạm tội bất trung này lại là các nhà lãnh đạo và quan chức.”
Nghe tin ấy, tôi xé cả áo trong lẫn áo ngoài,9:3 nhổ tóc, bứt râu, ngồi xuống, lòng bàng hoàng Tất cả những người nào run sợ khi nghe lời của Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên từ từ họp lại chung quanh tôi vì cớ tội bất trung của những người lưu đày hồi hương. Tôi tiếp tục ngồi bàng hoàng cho đến giờ dâng tế lễ thiêu buổi chiều.
Ê-xơ-ra Cầu Nguyện Xưng Tội
Đến giờ dâng tế lễ thiêu buổi chiều, tôi đứng dậy khỏi nơi tôi ngồi bàng hoàng chịu khổ nhục,9:5 Nt: khỏi nơi khổ nhục mình người vẫn còn mặc bộ áo xé rách khi trước, tôi quỳ xuống, dang tay hướng về CHÚA, Đức Chúa Trời tôi, và thưa cùng CHÚA:
“Lạy Đức Chúa Trời, con xấu hổ và nhục nhã quá, không dám ngước mặt lên về phía Ngài, ôi lạy Đức Chúa Trời, vì tội chúng con chất ngập đầu, và lỗi chúng con lên đến tận trời. Từ đời tổ tiên chúng con cho đến ngay chính hôm nay, chúng con đã sống trong tội lỗi đầy dẫy. Vì cớ sự gian ác của chúng con nên chúng con, các vua và thầy tế lễ của chúng con đều bị phó vào tay các vua nước ngoài, phó cho gươm dao; tù đày, cướp bóc, và sỉ nhục, như tình cảnh hiện nay.
Nhưng bây giờ, CHÚA, Đức Chúa Trời chúng con, ban ơn cho chúng con trong một thời gian ngắn: Ngài chừa lại cho chúng con một số người sống sót hồi hương, và ban cho chúng con một nơi tựa vững chắc9:8 Nt: một cái cọc trong Nơi Thánh, nhờ đó, Đức Chúa Trời chúng con khiến chúng con sáng mắt lên và phấn khởi phần nào trong kiếp nô lệ. Thật vậy, chúng con là nô lệ, tuy nhiên Đức Chúa Trời chúng con không bỏ mặc chúng con trong cảnh nô lệ, nhưng Ngài cho chúng con được lòng các vua Ba-tư, khiến chúng con phấn khởi để xây lại đền thờ Đức Chúa Trời chúng con, và dựng lại những nơi đổ nát; Ngài cũng ban cho chúng con một bức tường bao bọc trong Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.
Và giờ đây, ôi lạy Đức Chúa Trời chúng con, chúng con biết nói gì đây sau những việc vừa xảy ra? Vì chúng con đã phạm9:10 Nt: lìa bỏ điều răn Ngài, mà Ngài đã ban truyền qua các tiên tri, tôi tớ Ngài. Ngài phán như vầy: ‘Đất các con chiếm hữu là một đất ô uế bởi sự ô uế của dân địa phương gây ra qua các tập tục ghê tởm của họ. Họ đã làm đất đầy dẫy sự bất khiết của họ, từ đầu này cho đến đầu kia. Cho nên đừng gả con gái các con cho con trai họ, cũng đừng cưới con gái họ cho con trai các con. Các con chớ hề tìm cầu sự bình an hoặc thịnh vượng cho họ. Như vậy các con mới được hùng cường, hưởng sản vật của đất, và để đất lại làm di sản cho con cháu các con thừa hưởng mai sau.’
Sau khi tai họa giáng xuống9:13 Nt: sau khi mọi sự xảy ra cho chúng con chúng con vì cớ việc làm gian ác và tội trọng của chúng con, tuy nhiên, ôi hỡi Đức Chúa Trời của chúng con, Ngài chẳng phạt chúng con đáng như tội chúng con phải chịu, Ngài lại ban cho chúng con một nhóm người sống sót hồi hương như hiện nay, lẽ nào chúng con lại vi phạm điều răn Ngài một lần nữa, kết thông gia với những dân tộc có tập tục ghê tởm kia? Chúa há không giận đến mức tiêu diệt hết thảy chúng con, không để lại một người nào sống sót sao? Ôi, lạy CHÚA, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Ngài là Đấng công bình, tuy nhiên Ngài cho một nhóm chúng con còn sống sót như hiện nay. Kìa, chúng con ở trước mặt Ngài, mang tội nặng nề,9:15 Nt: trong tội lỗi của chúng con mặc dù không ai được đứng trước mặt Ngài trong tình trạng như vậy!”
Giải Quyết Vấn Đề
Trong khi Ê-xơ-ra phủ phục trước đền thờ Đức Chúa Trời, cầu nguyện, và khóc xưng tội, một đám đông người Y-sơ-ra-ên gồm đàn ông, đàn bà và trẻ con, họp lại chung quanh ông, vì dân chúng khóc thảm thiết lắm. Bấy giờ Sê-ca-nia, con trai Giê-hi-ên, thuộc con cháu Ê-lam, thưa với Ê-xơ-ra: “Chúng tôi có phạm tội bất trung với Đức Chúa Trời chúng ta, cưới vợ ngoại tộc thuộc các dân địa phương. Nhưng bây giờ hãy còn hy vọng cho dân Y-sơ-ra-ên về vấn đề này. Ngày giờ này, chúng tôi xin lập giao ước trước mặt Đức Chúa Trời chúng ta, hứa nguyện bỏ tất cả những người vợ ngoại tộc và con cái do họ sinh ra, theo lời chỉ bảo của Chúa tôi10:3 MT: dùng thay cho Đức Chúa Trời và của những người run sợ khi nghe mạng lịnh của Đức Chúa Trời chúng ta. Xin ông thi hành chiếu theo Kinh Luật. Xin ông bắt tay vào việc,10:4 Nt: đứng lên vì đây là trọng trách của ông. Chúng tôi sẽ ủng hộ ông. Xin ông can đảm hành động.”
Vậy Ê-xơ-ra đứng lên, xin các thầy thượng tế, người Lê-vi, và toàn dân Y-sơ-ra-ên thề sẽ thi hành theo đề nghị trên; và họ thề. Sau đấy, Ê-xơ-ra rời khỏi nơi phía trước đền thờ Đức Chúa Trời, đi về phòng của Giê-hô-ha-nan, con trai Ê-li-a-síp, và ông nghỉ đêm tại đây, không ăn bánh, cũng không uống nước, vì ông vẫn còn khóc than về tội bất trung của những người lưu đày hồi hương.
Có lời truyền rao khắp đất Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, kêu gọi mọi người lưu đày hồi hương tập họp về Giê-ru-sa-lem. Người nào không đến trong vòng ba ngày, sẽ bị tịch thu tất cả tài sản, và chính người sẽ bị khai trừ khỏi hội chúng lưu đày hồi hương, theo quyết định của các nhà lãnh đạo và trưởng lão.
Triệu Tập Cộng Đồng
Mọi người nam trong Giu-đa và Bên-gia-min đều tập họp tại Giê-ru-sa-lem trong vòng ba ngày. Lúc ấy nhằm ngày 20 tháng chín.10:9 Tương đương với tuần thứ ba tháng chạp, theo công lịch Toàn dân ngồi tại quảng trường trước đền thờ Đức Chúa Trời, run sợ vì vụ này, lại cũng run lạnh vì mưa to. Bây giờ thầy tế lễ Ê-xơ-ra đứng lên tuyên bố: “Anh em phạm tội bất trung vì cưới vợ ngoại tộc, do đó anh em làm cho tội của Y-sơ-ra-ên nặng thêm. Bây giờ anh em hãy thú tội10:11 Nt: tôn vinh/ca ngợi với CHÚA, Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em, và làm theo ý Ngài, phân ly khỏi dân địa phương và vợ ngoại tộc.”
Toàn hội chúng đáp lớn tiếng: “Đúng vậy. Chúng tôi chắc chắn phải làm theo điều ông dạy. Tuy nhiên, chúng tôi đông người lắm,10:13 Nt: dân chúng đông lắm lại vào mùa mưa, chúng tôi không thể tiếp tục đứng ngoài trời như thế này. Hơn nữa, công việc này không thể nào giải quyết xong trong một hoặc hai ngày, vì có rất nhiều người trong vòng chúng tôi phạm tội này.10:13 Nt: đây không phải là công việc của một hay hai ngày, vì chúng tôi phạm tội nhiều lắm trong vấn đề này Xin chỉ để các nhà lãnh đạo đại diện cho hội chúng ở lại đây. Trong các thành chúng ta, tất cả những người nào có vợ ngoại tộc phải trình diện trước các nhà lãnh đạo10:14 Trước các nhà lãnh đạo vào ngày giờ ấn định, mỗi người trình diện cùng với trưởng lão và thẩm phán của thành mình, cho đến khi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời chúng ta vì vấn đề này xoay khỏi chúng ta.” Chỉ có Giô-na-than, con trai A-sa-ên, và Gia-xi-gia, con trai Tiệc-va, phản đối đề nghị này. Mê-su-lam và Sáp-bê-tai, người Lê-vi, ủng hộ họ.
Vậy những người lưu đày hồi hương thực hành quyết định trên. Thầy tế lễ Ê-xơ-ra biệt riêng các trưởng tộc, chỉ định đích danh từng trưởng tộc cho mỗi gia tộc. Họ họp lại tra xét vấn đề vào ngày mồng một tháng mười, và hoàn tất việc điều tra tất cả những người đàn ông có vợ ngoại tộc vào ngày mồng một tháng giêng.
Danh Sách Những Người Phạm Tội Cưới Vợ Ngoại Tộc
Trong thành phần các thầy tế lễ, họ tìm được những người sau đây có vợ ngoại tộc:
Thuộc con cháu Giê-sua, con trai Giô-xa-đác, và anh em ông: Ma-a-sê-gia, Ê-li-ê-se, Gia-ríp, và Ghê-đa-lia, những người này10:19 MT: họ cam kết bỏ vợ và dâng một cừu đực trong bầy làm lễ chuộc lỗi.10:19 MT: dịch từng chữ: “và, có lỗi, một cừu đực trong bầy vì lỗi của họ.”
Thuộc con cháu Y-mê:
Ha-na-ni và Xê-ba-đia;
Thuộc con cháu Ha-rim:
Ma-a-sê-gia, Ê-li, Sê-ma-gia, Giê-hi-ên, và U-xia;
Thuộc con cháu Phát-hua:
En-giô-ê-nai, Ma-a-sê-gia, Ích-ma-ên, Na-tha-na-ên, Giô-xa-bát, và Ên-a-xa;
Thuộc thành phần người Lê-vi:
Giô-xa-bát, Si-mê-i, Kê-la-gia (tức Kê-li-ta), Phê-ta-hia, Giu-đa, và Ê-li-ê-se;
Thuộc thành phần ca nhạc sĩ:
En-gia-síp;
thuộc thành phần người gác cổng:
Sa-lum, Tê-lem, và U-ri;
Thuộc thành phần thường dân Y-sơ-ra-ên:
thuộc con cháu Pha-rốt:
Ram-gia, I-xi-gia, Manh-ki-gia, Mi-gia-min, Ê-lê-a-sa, Manh-ki-gia, và Bê-na-gia;
Thuộc con cháu Ê-lam:
Mát-tan-gia, Xa-cha-ri-gia, Giê-hi-ên, Áp-đi, Giê-rê-mốt, và Ê-li-gia;
Thuộc con cháu Xát-tu:
En-giô-ê-nai, En-gia-síp, Mát-tan-gia, Giê-rê-mốt, Xa-bát, và A-xi-xa;
Thuộc con cháu Bê-bai:
Giô-ha-nan, Ha-nan-gia, Xáp-bai, và Át-lai;
Thuộc con cháu Ba-ni:
Mê-su-lam, Ma-lúc, A-đa-gia, Gia-súp, Sê-anh, và Ra-mốt;
Thuộc con cháu Pha-hát Mô-áp:
Át-na, Kê-lanh, Rê-na-gia, Ma-a-sê-gia, Mát-tan-gia, Bê-xanh-ên, Bin-nui, và Ma-na-se;
Thuộc con cháu Ha-rim:
Ê-li-ê-se, Ích-si-gia, Manh-ki-gia, Sê-ma-gia, Si-mê-ôn, Bên-gia-min, Ma-lúc, và Sê-ma-ri-gia;
Thuộc con cháu Ha-sum:
Mát-tê-nai, Mát-ta-ta, Xa-bát, Ê-li-phê-lết, Giê-rê-mi, Ma-na-se, và Si-mê-i;
Thuộc con cháu Ba-ni:
Ma-a-dai, Am-ram, Giô-ên,10:34 Dịch theo LXX và Syr Bê-na-gia, Bê-đi-gia, Kê-lu-hu, Van-gia, Mê-rê-mốt, En-gia-síp, Mát-tan-gia, Mát-tê-nai, và Gia-a-su;
Thuộc con cháu Bin-nui:
Si-mê-i, Sê-lem-gia, Na-than, A-đa-gia, Mác-na-đê-bai, Sa-sai, Sa-rai, A-sa-rên, Sê-lem-gia, Sê-ma-ri-gia, Sa-lum, A-ma-ri-gia, Giô-sép;
Thuộc con cháu Nê-bô:
Giê-i-ên, Mát-tít-gia, Xa-bát, Xê-bi-na, Giát-đai, Giô-ên, và Bê-na-gia.
Tất cả những người ấy đều có vợ ngoại tộc; và một số đã sinh con.10:44 MT: không rõ nghĩa
1
The Decree of Cyrus In the first year of King Cyrus of Persia, in fulfillment of the LORD’s message spoken through Jeremiah, the LORD motivated King Cyrus of Persia to issue a proclamation throughout his kingdom and also to put it in writing. It read:
“This is what King Cyrus of Persia says:“‘The LORD God of heaven has given me all the kingdoms of the earth. He has appointed me to build a temple for him in Jerusalem, which is in Judah.
Anyone of his people among you(may his God be with him!) may go up to Jerusalem, which is in Judah, and may build the temple of the LORD God of Israel– he is the God who is in Jerusalem.
Anyone who survives in any of those places where he is a resident foreigner must be helped by his neighbors with silver, gold, equipment, and animals, along with voluntary offerings for the temple of God which is in Jerusalem.’”
The Exiles Prepare to Return to Jerusalem Then the leaders of Judah and Benjamin, along with the priests and the Levites– all those whose mind God had stirred– got ready to go up in order to build the temple of the LORD in Jerusalem.
All their neighbors assisted them with silver utensils, gold, equipment, animals, and expensive gifts, not to mention all the voluntary offerings.
Then King Cyrus brought out the vessels of the LORD’s temple which Nebuchadnezzar had brought from Jerusalem and had displayed in the temple of his gods.
King Cyrus of Persia entrusted them to Mithredath the treasurer, who counted them out to Sheshbazzar the leader of the Judahite exiles.
The inventory of these items was as follows: 30 gold basins, 1,000 silver basins, 29 silver utensils,
30 gold bowls, 410 other silver bowls, and 1,000 other vessels.
All these gold and silver vessels totaled 5,400. Sheshbazzar brought them all along when the captives were brought up from Babylon to Jerusalem.
2
The Names of the Returning Exiles These are the people of the province who were going up, from the captives of the exile whom King Nebuchadnezzar of Babylon had forced into exile in Babylon. They returned to Jerusalem and Judah, each to his own city.
They came with Zerubbabel, Jeshua, Nehemiah, Seraiah, Reelaiah, Mordecai, Bilshan, Mispar, Bigvai, Rehum, and Baanah. The number of Israelites was as follows:
the descendants of Parosh: 2,172;
the descendants of Shephatiah: 372;
the descendants of Arah: 775;
the descendants of Pahath-Moab(from the line of Jeshua and Joab): 2,812;
the descendants of Elam: 1,254;
the descendants of Zattu: 945;
the descendants of Zaccai: 760;
the descendants of Bani: 642;
the descendants of Bebai: 623;
the descendants of Azgad: 1,222;
the descendants of Adonikam: 666;
the descendants of Bigvai: 2,056;
the descendants of Adin: 454;
the descendants of Ater(through Hezekiah): 98;
the descendants of Bezai: 323;
the descendants of Jorah: 112;
the descendants of Hashum: 223;
the descendants of Gibbar: 95.
The men of Bethlehem: 123;
the men of Netophah: 56;
the men of Anathoth: 128;
the men of the family of Azmaveth: 42;
the men of Kiriath Jearim, Kephirah and Beeroth: 743;
the men of Ramah and Geba: 621;
the men of Micmash: 122;
the men of Bethel and Ai: 223;
the descendants of Nebo: 52;
the descendants of Magbish: 156;
the descendants of the other Elam: 1,254;
the descendants of Harim: 320;
the men of Lod, Hadid, and Ono: 725;
the men of Jericho: 345;
the descendants of Senaah: 3,630.
The priests: the descendants of Jedaiah(through the family of Jeshua): 973;
the descendants of Immer: 1,052;
the descendants of Pashhur: 1,247;
the descendants of Harim: 1,017.
The Levites: the descendants of Jeshua and Kadmiel(through the line of Hodaviah): 74.
The singers: the descendants of Asaph: 128.
The gatekeepers: the descendants of Shallum, the descendants of Ater, the descendants of Talmon, the descendants of Akkub, the descendants of Hatita, and the descendants of Shobai: 139.
The temple servants: the descendants of Ziha, the descendants of Hasupha, the descendants of Tabbaoth,
the descendants of Keros, the descendants of Siaha, the descendants of Padon,
the descendants of Lebanah, the descendants of Hagabah, the descendants of Akkub,
the descendants of Hagab, the descendants of Shalmai, the descendants of Hanan,
the descendants of Giddel, the descendants of Gahar, the descendants of Reaiah,
the descendants of Rezin, the descendants of Nekoda, the descendants of Gazzam,
the descendants of Uzzah, the descendants of Paseah, the descendants of Besai,
the descendants of Asnah, the descendants of Meunim, the descendants of Nephussim,
the descendants of Bakbuk, the descendants of Hakupha, the descendants of Harhur,
the descendants of Bazluth, the descendants of Mehida, the descendants of Harsha,
the descendants of Barkos, the descendants of Sisera, the descendants of Temah,
the descendants of Neziah, and the descendants of Hatipha.
The descendants of the servants of Solomon: the descendants of Sotai, the descendants of Hassophereth, the descendants of Peruda,
the descendants of Jaala, the descendants of Darkon, the descendants of Giddel,
the descendants of Shephatiah, the descendants of Hattil, the descendants of Pokereth-Hazzebaim, and the descendants of Ami.
All the temple servants and the descendants of the servants of Solomon: 392.
These are the ones that came up from Tel Melah, Tel Harsha, Kerub, Addon, and Immer(although they were unable to certify their family connection or their ancestry, as to whether they really were from Israel):
the descendants of Delaiah, the descendants of Tobiah, and the descendants of Nekoda: 652.
And from among the priests: the descendants of Hobaiah, the descendants of Hakkoz, and the descendants of Barzillai(who had taken a wife from the daughters of Barzillai the Gileadite and was called by that name).
They searched for their records in the genealogical materials, but did not find them. They were therefore excluded from the priesthood.
The governor instructed them not to eat any of the sacred food until there was a priest who could consult the Urim and Thummim.
The entire group numbered 42,360,
not counting their male and female servants, who numbered 7,337. They also had 200 male and female singers
and 736 horses, 245 mules,
435 camels, and 6,720 donkeys.
When they came to the LORD’s temple in Jerusalem, some of the family leaders offered voluntary offerings for the temple of God in order to rebuild it on its site.
As they were able, they gave to the treasury for this work 61,000 drachmas of gold, 5,000 minas of silver, and 100 priestly robes.
The priests, the Levites, some of the people, the singers, the gatekeepers, and the temple servants lived in their towns, and all the rest of Israel lived in their towns.
3
The Altar is Rebuilt When the seventh month arrived and the Israelites were living in their towns, the people assembled in Jerusalem.
Then Jeshua the son of Jozadak and his priestly colleagues and Zerubbabel son of Shealtiel and his colleagues started to build the altar of the God of Israel so they could offer burnt offerings on it as required by the law of Moses the man of God.
They established the altar on its foundations, even though they were in terror of the local peoples, and they offered burnt offerings on it to the LORD, both the morning and the evening offerings.
They observed the Feast of Shelters as required and offered the proper number of daily burnt offerings according to the requirement for each day.
Afterward they offered the continual burnt offerings and those for the new moons and those for all the holy assemblies of the LORD and all those that were being voluntarily offered to the LORD.
From the first day of the seventh month they began to offer burnt offerings to the LORD. However, the LORD’s temple was not at that time established.
Preparations for Rebuilding the Temple So they provided money for the masons and carpenters, and food, beverages, and olive oil for the people of Sidon and Tyre, so that they would bring cedar timber from Lebanon to the seaport at Joppa, in accord with the edict of King Cyrus of Persia.
In the second year after they had come to the temple of God in Jerusalem, in the second month, Zerubbabel the son of Shealtiel and Jeshua the son of Jozadak initiated the work, along with the rest of their associates, the priests and the Levites, and all those who were coming to Jerusalem from the exile. They appointed the Levites who were at least twenty years old to take charge of the work on the LORD’s temple.
So Jeshua appointed both his sons and his relatives, Kadmiel and his sons(the sons of Yehudah), to take charge of the workers in the temple of God, along with the sons of Henadad, their sons, and their relatives the Levites.
When the builders established the LORD’s temple, the priests, ceremonially attired and with their clarions, and the Levites(the sons of Asaph) with their cymbals, stood to praise the LORD according to the instructions left by King David of Israel.
With antiphonal response they sang, praising and glorifying the LORD:“For he is good; his loyal love toward Israel is forever.” All the people gave a loud shout as they praised the LORD when the temple of the LORD was established.
Many of the priests, the Levites, and the leaders– older people who had seen with their own eyes the former temple while it was still established– were weeping loudly, and many others raised their voice in a joyous shout.
People were unable to tell the difference between the sound of joyous shouting and the sound of the people’s weeping, for the people were shouting so loudly that the sound was heard a long way off.
4
Opposition to the Building Efforts When the enemies of Judah and Benjamin learned that the former exiles were building a temple for the LORD God of Israel,
they came to Zerubbabel and the leaders and said to them,“Let us help you build, for like you we seek your God and we have been sacrificing to him from the time of King Esarhaddon of Assyria, who brought us here.”
But Zerubbabel, Jeshua, and the rest of the leaders of Israel said to them,“You have no right to help us build the temple of our God. We will build it by ourselves for the LORD God of Israel, just as King Cyrus, the king of Persia, has commanded us.”
Then the local people began to discourage the people of Judah and to dishearten them from building.
They were hiring advisers to oppose them, so as to frustrate their plans, throughout the time of King Cyrus of Persia until the reign of King Darius of Persia.
Official Complaints Are Lodged Against the Jews At the beginning of the reign of Ahasuerus they filed an accusation against the inhabitants of Judah and Jerusalem.
And during the reign of Artaxerxes, Bishlam, Mithredath, Tabeel, and the rest of their colleagues wrote to King Artaxerxes of Persia. This letter was first written in Aramaic but then translated.[Aramaic:]
Rehum the commander and Shimshai the scribe wrote a letter concerning Jerusalem to King Artaxerxes as follows:
From Rehum the commander, Shimshai the scribe, and the rest of their colleagues– the judges, the rulers, the officials, the secretaries, the Erechites, the Babylonians, the people of Susa(that is, the Elamites),
and the rest of the nations whom the great and noble Ashurbanipal deported and settled in the cities of Samaria and other places in Trans-Euphrates.
(This is a copy of the letter they sent to him:)“To King Artaxerxes, from your servants in Trans-Euphrates:
Now let the king be aware that the Jews who came up to us from you have gone to Jerusalem. They are rebuilding that rebellious and odious city. They are completing its walls and repairing its foundations.
Let the king also be aware that if this city is built and its walls are completed, no more tax, custom, or toll will be paid, and the royal treasury will suffer loss.
In light of the fact that we are loyal to the king, and since it does not seem appropriate to us that the king should sustain damage, we are sending the king this information
so that he may initiate a search of the records of his predecessors and discover in those records that this city is rebellious and injurious to both kings and provinces, producing internal revolts from long ago. It is for this very reason that this city was destroyed.
We therefore are informing the king that if this city is rebuilt and its walls are completed, you will not retain control of this portion of Trans-Euphrates.”
The king sent the following response:“To Rehum the commander, Shimshai the scribe, and the rest of their colleagues who live in Samaria and other parts of Trans-Euphrates: Greetings!
The letter you sent to us has been translated and read in my presence.
So I gave orders, and it was determined that this city from long ago has been engaging in insurrection against kings. It has continually engaged in rebellion and revolt.
Powerful kings have been over Jerusalem who ruled throughout the entire Trans-Euphrates and who were the beneficiaries of tribute, custom, and toll.
Now give orders that these men cease their work and that this city not be rebuilt until such time as I so instruct.
Exercise appropriate caution so that there is no negligence in this matter. Why should danger increase to the point that kings sustain damage?”
Then, as soon as the copy of the letter from King Artaxerxes was read in the presence of Rehum, Shimshai the scribe, and their colleagues, they proceeded promptly to the Jews in Jerusalem and stopped them with threat of armed force.
So the work on the temple of God in Jerusalem came to a halt. It remained halted until the second year of the reign of King Darius of Persia.
5
Tattenai Appeals to Darius Then the prophets Haggai and Zechariah son of Iddo prophesied concerning the Jews who were in Judah and Jerusalem in the name of the God of Israel who was over them.
Then Zerubbabel the son of Shealtiel and Jeshua the son of Jozadak began to rebuild the temple of God in Jerusalem. The prophets of God were with them, supporting them.
At that time Tattenai governor of Trans-Euphrates, Shethar-Bozenai, and their colleagues came to them and asked,“Who gave you authority to rebuild this temple and to complete this structure?”
They also asked them,“What are the names of the men who are building this edifice?”
But God was watching over the elders of Judah, and they were not stopped until a report could be dispatched to Darius and a letter could be sent back concerning this.
This is a copy of the letter that Tattenai governor of Trans-Euphrates, Shethar-Bozenai, and his colleagues who were the officials of Trans-Euphrates sent to King Darius.
The report they sent to him was written as follows:“To King Darius: All greetings!
Let it be known to the king that we have gone to the province of Judah, to the temple of the great God. It is being built with large stones, and timbers are being placed in the walls. This work is being done with all diligence and is prospering in their hands.
We inquired of those elders, asking them,‘Who gave you the authority to rebuild this temple and to complete this structure?’
We also inquired of their names in order to inform you, so that we might write the names of the men who were their leaders.
They responded to us in the following way:‘We are servants of the God of heaven and earth. We are rebuilding the temple which was previously built many years ago. A great king of Israel built it and completed it.
But after our ancestors angered the God of heaven, he delivered them into the hands of King Nebuchadnezzar of Babylon, the Chaldean, who destroyed this temple and exiled the people to Babylon.
But in the first year of King Cyrus of Babylon, King Cyrus enacted a decree to rebuild this temple of God.
Even the gold and silver vessels of the temple of God that Nebuchadnezzar had taken from the temple in Jerusalem and had brought to the palace of Babylon– even those things King Cyrus brought from the palace of Babylon and presented to a man by the name of Sheshbazzar whom he had appointed as governor.
He said to him,“Take these vessels and go deposit them in the temple in Jerusalem, and let the house of God be rebuilt in its proper location.”
Then this Sheshbazzar went and laid the foundations of the temple of God in Jerusalem. From that time to the present moment it has been in the process of being rebuilt, although it is not yet finished.’
“Now if the king is so inclined, let a search be conducted in the royal archives there in Babylon in order to determine whether King Cyrus did in fact issue orders for this temple of God to be rebuilt in Jerusalem. Then let the king send us a decision concerning this matter.”
6
Darius Issues a Decree So Darius the king issued orders, and they searched in the archives of the treasury which were deposited there in Babylon.
A scroll was found in the citadel of Ecbatana which is in the province of Media, and it was inscribed as follows:“Memorandum:
In the first year of his reign, King Cyrus gave orders concerning the temple of God in Jerusalem:‘Let the temple be rebuilt as a place where sacrifices are offered. Let its foundations be set in place. Its height is to be ninety feet and its width ninety feet,
with three layers of large stones and one layer of timber. The expense is to be subsidized by the royal treasury.
Furthermore let the gold and silver vessels of the temple of God, which Nebuchadnezzar brought from the temple in Jerusalem and carried to Babylon, be returned and brought to their proper place in the temple in Jerusalem. Let them be deposited in the temple of God.’
“Now Tattenai governor of Trans-Euphrates, Shethar-bozenai, and their colleagues, the officials of Trans-Euphrates– all of you stay far away from there!
Leave the work on this temple of God alone. Let the governor of the Jews and the elders of the Jews rebuild this temple of God in its proper place.
“I also hereby issue orders as to what you are to do with those elders of the Jews in order to rebuild this temple of God. From the royal treasury, from the taxes of Trans-Euphrates the complete costs are to be given to these men, so that there may be no interruption of the work.
Whatever is needed– whether oxen or rams or lambs for burnt offerings for the God of heaven or wheat or salt or wine or oil, as required by the priests who are in Jerusalem– must be given to them daily without any neglect,
so that they may be offering incense to the God of heaven and may be praying for the good fortune of the king and his family.
“I hereby give orders that if anyone changes this directive a beam is to be pulled out from his house and he is to be raised up and impaled on it, and his house is to be reduced to a rubbish heap for this indiscretion.
May God who makes his name to reside there overthrow any king or nation who reaches out to cause such change so as to destroy this temple of God in Jerusalem. I, Darius, have given orders. Let them be carried out with precision!”
The Temple Is Finally Dedicated Then Tattenai governor of Trans-Euphrates, Shethar-Bozenai, and their colleagues acted accordingly– with precision, just as Darius the king had given instructions.
The elders of the Jews continued building and prospering, while at the same time Haggai the prophet and Zechariah the son of Iddo continued prophesying. They built and brought it to completion by the command of the God of Israel and by the command of Cyrus and Darius and Artaxerxes king of Persia.
They finished this temple on the third day of the month Adar, which is the sixth year of the reign of King Darius.
The people of Israel– the priests, the Levites, and the rest of the exiles– observed the dedication of this temple of God with joy.
For the dedication of this temple of God they offered one hundred bulls, two hundred rams, four hundred lambs, and twelve male goats for the sin of all Israel, according to the number of the tribes of Israel.
They appointed the priests by their divisions and the Levites by their divisions over the worship of God at Jerusalem, in accord with the book of Moses.
The exiles observed the Passover on the fourteenth day of the first month.
The priests and the Levites had purified themselves, every last one, and they all were ceremonially pure. They sacrificed the Passover lamb for all the exiles, for their colleagues the priests, and for themselves.
The Israelites who were returning from the exile ate it, along with all those who had joined them in separating themselves from the uncleanness of the nations of the land to seek the LORD God of Israel.
They observed the Feast of Unleavened Bread for seven days with joy, for the LORD had given them joy and had changed the opinion of the king of Assyria toward them, so that he assisted them in the work on the temple of God, the God of Israel.
7
The Arrival of Ezra Now after these things had happened, during the reign of King Artaxerxes of Persia, Ezra came up from Babylon. Ezra was the son of Seraiah, who was the son of Azariah, who was the son of Hilkiah,
who was the son of Shallum, who was the son of Zadok, who was the son of Ahitub,
who was the son of Amariah, who was the son of Azariah, who was the son of Meraioth,
who was the son of Zerahiah, who was the son of Uzzi, who was the son of Bukki,
who was the son of Abishua, who was the son of Phinehas, who was the son of Eleazar, who was the son of Aaron the chief priest.
This Ezra is the one who came up from Babylon. He was a scribe who was skilled in the law of Moses which the LORD God of Israel had given. The king supplied him with everything he requested, for the hand of the LORD his God was on him.
In the seventh year of King Artaxerxes, Ezra brought up to Jerusalem some of the Israelites and some of the priests, the Levites, the attendants, the gatekeepers, and the temple servants.
He entered Jerusalem in the fifth month of the seventh year of the king.
On the first day of the first month he had determined to make the ascent from Babylon, and on the first day of the fifth month he arrived at Jerusalem, for the good hand of his God was on him.
Now Ezra had dedicated himself to the study of the law of the LORD, to its observance, and to teaching its statutes and judgments in Israel.
Artaxerxes Gives Official Endorsement to Ezra’s Mission What follows is a copy of the letter that King Artaxerxes gave to Ezra the priestly scribe. Ezra was a scribe in matters pertaining to the commandments of the LORD and his statutes over Israel:
“Artaxerxes, king of kings, to Ezra the priest, a scribe of the law of the God of heaven:
I have now issued a decree that anyone in my kingdom from the people of Israel– even the priests and Levites– who wishes to do so may go up with you to Jerusalem.
You are authorized by the king and his seven advisers to inquire concerning Judah and Jerusalem, according to the law of your God which is in your possession,
and to bring silver and gold which the king and his advisers have freely contributed to the God of Israel, who resides in Jerusalem,
along with all the silver and gold that you may collect throughout all the province of Babylon and the contributions of the people and the priests for the temple of their God which is in Jerusalem.
With this money you should be sure to purchase bulls, rams, and lambs, along with the appropriate meal offerings and libations. You should bring them to the altar of the temple of your God which is in Jerusalem.
You may do whatever seems appropriate to you and your colleagues with the rest of the silver and the gold, in keeping with the will of your God.
Deliver to the God of Jerusalem the vessels that are given to you for the service of the temple of your God.
The rest of the needs for the temple of your God that you may have to supply, you may do so from the royal treasury.
“I, King Artaxerxes, hereby issue orders to all the treasurers of Trans-Euphrates, that you precisely execute all that Ezra the priestly scribe of the law of the God of heaven may request of you–
up to 100 talents of silver, 100 cors of wheat, 100 baths of wine, 100 baths of olive oil, and unlimited salt.
Everything that the God of heaven has required should be precisely done for the temple of the God of heaven. Why should there be wrath against the empire of the king and his sons?
Furthermore, be aware of the fact that you have no authority to impose tax, tribute, or toll on any of the priests, the Levites, the musicians, the doorkeepers, the temple servants, or the attendants at the temple of this God.
“Now you, Ezra, in keeping with the wisdom of your God which you possess, appoint judges and court officials who can arbitrate cases on behalf of all the people who are in Trans-Euphrates who know the laws of your God. Those who do not know this law should be taught.
Everyone who does not observe both the law of your God and the law of the king will be completely liable to the appropriate penalty, whether it is death or banishment or confiscation of property or detainment in prison.”
Blessed be the LORD God of our fathers, who so moved in the heart of the king to so honor the temple of the LORD which is in Jerusalem!
He has also conferred his favor on me before the king, his advisers, and all the influential leaders of the king. I gained strength as the hand of the LORD my God was on me, and I gathered leaders from Israel to go up with me.
8
The Leaders Who Returned with Ezra These are the leaders and those enrolled with them by genealogy who were coming up with me from Babylon during the reign of King Artaxerxes:
from the descendants of Phinehas, Gershom; from the descendants of Ithamar, Daniel; from the descendants of David, Hattush
the son of Shecaniah; from the descendants of Parosh, Zechariah, and with him were enrolled by genealogy 150 men;
from the descendants of Pahath-Moab, Eliehoenai son of Zerahiah, and with him 200 men;
from the descendants of Zattu, Shecaniah son of Jahaziel, and with him 300 men;
from the descendants of Adin, Ebed son of Jonathan, and with him 50 men;
from the descendants of Elam, Jeshaiah son of Athaliah, and with him 70 men;
from the descendants of Shephatiah, Zebadiah son of Michael, and with him 80 men;
from the descendants of Joab, Obadiah son of Jehiel, and with him 218 men;
from the descendants of Bani, Shelomith son of Josiphiah, and with him 160 men;
from the descendants of Bebai, Zechariah son of Bebai, and with him 28 men;
from the descendants of Azgad, Johanan son of Hakkatan, and with him 110 men;
from the descendants of Adonikam there were the latter ones. Their names were Eliphelet, Jeuel, and Shemaiah, and with them 60 men;
from the descendants of Bigvai, Uthai, and Zaccur, and with them 70 men.
The Exiles Travel to Jerusalem I had them assemble at the canal that flows toward Ahava, and we camped there for three days. I observed that the people and the priests were present, but I found no Levites there.
So I sent for Eliezer, Ariel, Shemaiah, Elnathan, Jarib, Elnathan, Nathan, Zechariah, and Meshullam, who were leaders, and Joiarib and Elnathan, who were teachers.
I sent them to Iddo, who was the leader in the place called Casiphia. I told them what to say to Iddo and his relatives, who were the temple servants in Casiphia, so they would bring us attendants for the temple of our God.
Due to the fact that the good hand of our God was on us, they brought us a skilled man, from the descendants of Mahli the son of Levi son of Israel. This man was Sherebiah, who was accompanied by his sons and brothers, 18 men,
and Hashabiah, along with Jeshaiah from the descendants of Merari, with his brothers and their sons, 20 men,
and some of the temple servants that David and his officials had established for the work of the Levites– 220 of them. They were all designated by name.
I called for a fast there by the Ahava Canal, so that we might humble ourselves before our God and seek from him a safe journey for us, our children, and all our property.
I was embarrassed to request soldiers and horsemen from the king to protect us from the enemy along the way, because we had said to the king,“The good hand of our God is on everyone who is seeking him, but his great anger is against everyone who forsakes him.”
So we fasted and prayed to our God about this, and he answered us.
Then I set apart twelve of the leading priests, together with Sherebiah, Hashabiah, and ten of their brothers,
and I weighed out to them the silver, the gold, and the vessels intended for the temple of our God– items that the king, his advisers, his officials, and all Israel who were present had contributed.
I weighed out to them 650 talents of silver, silver vessels worth 100 talents, 100 talents of gold,
20 gold bowls worth 1,000 darics, and two exquisite vessels of gleaming bronze, as valuable as gold.
Then I said to them,“You are holy to the LORD, just as these vessels are holy. The silver and the gold are a voluntary offering to the LORD, the God of your fathers.
Be careful with them and protect them, until you weigh them out before the leading priests and the Levites and the family leaders of Israel in Jerusalem, in the storerooms of the temple of the LORD.
Then the priests and the Levites took charge of the silver, the gold, and the vessels that had been weighed out, to transport them to Jerusalem to the temple of our God.
On the twelfth day of the first month we began traveling from the Ahava Canal to go to Jerusalem. The hand of our God was on us, and he delivered us from our enemy and from bandits along the way.
So we came to Jerusalem, and we stayed there for three days.
On the fourth day we weighed out the silver, the gold, and the vessels in the house of our God into the care of Meremoth son of Uriah, the priest, and Eleazar son of Phinehas, who were accompanied by Jozabad son of Jeshua and Noadiah son of Binnui, who were Levites.
Everything was verified by number and by weight, and the total weight was written down at that time.
The exiles who were returning from the captivity offered burnt offerings to the God of Israel– twelve bulls for all Israel, ninety-six rams, seventy-seven male lambs, along with twelve male goats as a sin offering. All this was a burnt offering to the LORD.
Then they presented the decrees of the king to the king’s satraps and to the governors of Trans-Euphrates, who gave help to the people and to the temple of God.
9
A Prayer of Ezra Now when these things had been completed, the leaders approached me and said,“The people of Israel, the priests, and the Levites have not separated themselves from the local residents who practice detestable things similar to those of the Canaanites, the Hittites, the Perizzites, the Jebusites, the Ammonites, the Moabites, the Egyptians, and the Amorites.
Indeed, they have taken some of their daughters as wives for themselves and for their sons, so that the holy race has become intermingled with the local residents. Worse still, the leaders and the officials have been at the forefront of all of this unfaithfulness!”
When I heard this report, I tore my tunic and my robe and ripped out some of the hair from my head and beard. Then I sat down, quite devastated.
Everyone who held the words of the God of Israel in awe gathered around me because of the unfaithful acts of the people of the exile. Devastated, I continued to sit there until the evening offering.
At the time of the evening offering I got up from my self-abasement, with my tunic and robe torn, and then dropped to my knees and spread my hands to the LORD my God.
I prayed,“O my God, I am ashamed and embarrassed to lift my face to you, my God! For our iniquities have climbed higher than our heads, and our guilt extends to the heavens.
From the days of our fathers until this very day our guilt has been great. Because of our iniquities we, along with our kings and priests, have been delivered over by the local kings to sword, captivity, plunder, and embarrassment– right up to the present time.
“But now briefly we have received mercy from the LORD our God, in that he has left us a remnant and has given us a secure position in his holy place. Thus our God has enlightened our eyes and has given us a little relief in our time of servitude.
Although we are slaves, our God has not abandoned us in our servitude. He has extended kindness to us in the sight of the kings of Persia, in that he has revived us to restore the temple of our God and to raise up its ruins and to give us a protective wall in Judah and Jerusalem.
“And now what are we able to say after this, our God? For we have forsaken your commandments
which you commanded us through your servants the prophets with these words:‘The land that you are entering to possess is a land defiled by the impurities of the local residents! With their abominations they have filled it from one end to the other with their filthiness.
Therefore do not give your daughters in marriage to their sons, and do not take their daughters in marriage for your sons. Do not ever seek their peace or welfare, so that you may be strong and may eat the good of the land and may leave it as an inheritance for your children forever.’
“Everything that has happened to us has come about because of our wicked actions and our great guilt. Even so, our God, you have exercised restraint toward our iniquities and have given us a remnant such as this.
Shall we once again break your commandments and intermarry with these abominable peoples? Would you not be so angered by us that you would wipe us out, with no survivor or remnant?
O LORD God of Israel, you are righteous, for we are left as a remnant this day. Indeed, we stand before you in our guilt. However, because of this guilt no one can really stand before you.”
10
The People Confess Their Sins While Ezra was praying and confessing, weeping and throwing himself to the ground before the temple of God, a very large crowd of Israelites– men, women, and children alike– gathered around him. The people wept loudly.
Then Shecaniah son of Jehiel, from the descendants of Elam, addressed Ezra:“We have been unfaithful to our God by marrying foreign women from the local peoples. Nonetheless, there is still hope for Israel in this regard.
Therefore let us enact a covenant with our God to send away all these women and their offspring, in keeping with your counsel, my lord, and that of those who respect the commandments of our God. And let it be done according to the law.
Get up, for this matter concerns you. We are with you, so be strong and act decisively!”
So Ezra got up and made the leading priests and Levites and all Israel take an oath to carry out this plan. And they all took a solemn oath.
Then Ezra got up from in front of the temple of God and went to the room of Jehohanan son of Eliashib. While he stayed there, he did not eat food or drink water, for he was in mourning over the infidelity of the exiles.
A proclamation was circulated throughout Judah and Jerusalem that all the exiles were to be assembled in Jerusalem.
Everyone who did not come within three days would thereby forfeit all his property, in keeping with the counsel of the officials and the elders. Furthermore, he himself would be excluded from the assembly of the exiles.
All the men of Judah and Benjamin were gathered in Jerusalem within the three days.(It was in the ninth month, on the twentieth day of that month.) All the people sat in the square at the temple of God, trembling because of this matter and because of the rains.
Then Ezra the priest stood up and said to them,“You have behaved in an unfaithful manner by taking foreign wives! This has contributed to the guilt of Israel.
Now give praise to the LORD God of your fathers, and do his will. Separate yourselves from the local residents and from these foreign wives.”
All the assembly replied in a loud voice:“We will do just as you have said!
However, the people are numerous and it is the rainy season. We are unable to stand here outside. Furthermore, this business cannot be resolved in a day or two, for we have sinned greatly in this matter.
Let our leaders take steps on behalf of all the assembly. Let all those in our towns who have married foreign women come at an appointed time, and with them the elders of each town and its judges, until the hot anger of our God is turned away from us in this matter.”
Only Jonathan son of Asahel and Jahzeiah son of Tikvah were against this, assisted by Meshullam and Shabbethai the Levite.
So the exiles proceeded accordingly. Ezra the priest separated out by name men who were leaders in their family groups. They sat down to consider this matter on the first day of the tenth month,
and on the first day of the first month they finished considering all the men who had married foreign wives.
Those Who Had Taken Foreign Wives It was determined that from the descendants of the priests, the following had taken foreign wives: from the descendants of Jeshua son of Jozadak, and his brothers: Maaseiah, Eliezer, Jarib, and Gedaliah.
(They gave their word to send away their wives; their guilt offering was a ram from the flock for their guilt.)
From the descendants of Immer: Hanani and Zebadiah.
From the descendants of Harim: Maaseiah, Elijah, Shemaiah, Jehiel, and Uzziah.
From the descendants of Pashhur: Elioenai, Maaseiah, Ishmael, Nethanel, Jozabad, and Elasah.
From the Levites: Jozabad, Shimei, Kelaiah(also known as Kelita), Pethahiah, Judah, and Eliezer.
From the singers: Eliashib. From the gatekeepers: Shallum, Telem, and Uri.
From the Israelites: from the descendants of Parosh: Ramiah, Izziah, Malkijah, Mijamin, Eleazar, Malkijah, and Benaiah.
From the descendants of Elam: Mattaniah, Zechariah, Jehiel, Abdi, Jeremoth, and Elijah.
From the descendants of Zattu: Elioenai, Eliashib, Mattaniah, Jeremoth, Zabad, and Aziza.
From the descendants of Bebai: Jehohanan, Hananiah, Zabbai, and Athlai.
From the descendants of Bani: Meshullam, Malluch, Adaiah, Jashub, Sheal, and Jeremoth.
From the descendants of Pahath-Moab: Adna, Kelal, Benaiah, Maaseiah, Mattaniah, Bezalel, Binnui, and Manasseh.
From the descendants of Harim: Eliezer, Ishijah, Malkijah, Shemaiah, Shimeon,
Benjamin, Malluch, and Shemariah.
From the descendants of Hashum: Mattenai, Mattattah, Zabad, Eliphelet, Jeremai, Manasseh, and Shimei.
From the descendants of Bani: Maadai, Amram, Uel,
Benaiah, Bedeiah, Keluhi,
Vaniah, Meremoth, Eliashib,
Mattaniah, Mattenai, and Jaasu.
From the descendants of Binnui: Shimei,
Shelemiah, Nathan, Adaiah,
Machnadebai, Shashai, Sharai,
Azarel, Shelemiah, Shemariah,
Shallum, Amariah, and Joseph.
From the descendants of Nebo: Jeiel, Mattithiah, Zabad, Zebina, Jaddai, Joel, and Benaiah.
All these had taken foreign wives, and some of them also had children by these women.